NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY VIỆT NAM TỪ TRONG QUÁ TRÌNH TẠO VỐN

Đăng ngày : 17/10/2014 3:31:03 PM

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY VIỆT NAM

TỪ TRONG QUÁ TRÌNH TẠO VỐN

                                                                                                                      Hoàng Xuân Hiệp

                                                                                                        Trường Cao đẳng Công nghiệp –

                                                                                                                  Dệt May Thời trang Hà

Ngành Dệt May Việt Nam là một trong những ngành có tăng trưởng xuất khẩu cao và tạo ra thặng dư thương mại lớn trong những năm qua. Chiến lược cạnh tranh được ngành dệt may xác định trong giai đoạn 2013 – 2020 là nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và thời trang hoá ngành dệt may Việt Nam với mục tiêu ngày càng nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm dệt may. Để triển khai thành công các chiến lược cạnh tranh này, ngành công nghiệp may Việt Nam cần thiết phải nâng cao chất lượng vốn nhân lực, đặc biệt là chất lượng vốn nhân lực chuyên môn của ngành để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập mạnh mẽ vào thị trường thế giới. Bài báo này hướng đến việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực chuyên môn của cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong các doanh nghiệp may Việt Nam từ trong quá trình tạo vốn nhân lực.

Từ khoá : chất lượng, vốn nhân lực, dệt may, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật

1- Quá trình tạo vốn nhân lực cho các doanh nghiệp

1.1 Vốn nhân lực

Vốn nhân lực (Human Capital) thuộc nguồn lực lao động và là bộ phận cốt lõi của các nguồn lực này. Vốn nhân lực là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và những khả năng có thể khai thác của người lao động. Vốn nhân lực thường được đo bằng số năm đi học, chính là số năm được dùng để tạo vốn nhân lực.

1.2 Chất lượng vốn nhân lực

Chất lượng vốn nhân lực là mức độ mà một tập hợp các thuộc tính của vốn nhân lực tạo cho vốn nhân lực khả năng thoả mãn những nhu cầu được nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Quá trình tạo vốn nhân lực đóng góp vào chất lượng vốn nhân lực thể hiện ở các chỉ tiêu : mức độ chương trình đào tạo gắn với nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp, trình độ đội ngũ giảng viên, trình độ đầu vào của người học, công tác quản lý quá trình đào tạo.

1.3. Quá trình tạo vốn nhân lực cho các doanh nghiệp qua đào tạo chính quy và không chính quy

Trung tâm chất lượng giáo dục lực lượng lao động quốc gia (EQW-NES) Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra qua điện thoại với các đối tượng điều tra là các nhà quản lý và giới chủ của 3000 doanh nghiệp thuê từ 20 lao động trở lên. Kết quả cuộc điều tra đã cho thấy tăng số năm đi học của người lao động sẽ đóng góp lớn hơn vào năng suất lao động so với tăng vốn đầu tư. Tính chung cho tất cả các công ty, 10% tăng lên trong giáo dục gắn liền với 8,6% tăng lên về năng suất, trong khi tăng 10% vốn chỉ giúp tăng thêm năng suất 3,4%. Chính vì vậy, những người sử dụng lao động thường thể hiện mong muốn tạo dựng vốn nhân lực thông qua đào tạo chính quy tại các trường hoặc đào tạo không chính quy trong công việc. Các đặc điểm của học tập chính quy và không chính quy được thể hiện trong bảng sau :

Bảng 1: Các đặc điểm của học tập chính quy và không chính quy

TT Học tập không chính quy Học tập chính quy
1 Liên quan cao đến nhu cầu cá nhân Liên quan đến một số người, không liên quan nhiều đến một số người khác
2 Việc học tập rất khác nhau giữa những người học. Những người học học những nội dung khác nhau căn cứ vào nhu cầu của mình. Việc học tập có những yêu cầu giống nhau giữa những người học, nghĩa là tất cả những học viên phải học cùng nội dung như nhau.
3 Khoảng cách giữa kiến thức hiện tại và kiến thức mục tiêu rất nhỏ. Khoảng cách giữa kiến thức hiện tại và kiến thức mục tiêu hay thay đổi.
4 Người học quyết định học tập như thế nào để áp dụng được ngay (“học đúng lúc”) Giảng viên quyết định thời điểm áp dụng những nội dung học tập, có thể học xong sử dụng được ngay, có thể tốt cho trước đây hoặc tốt cho sau này.
5 Diễn ra tại nơi làm việc Thường không diễn ra ở nơi làm việc.

 Chính quan điểm cho rằng người lao động là tài sản đã thúc đẩy quá trình quản lý đi theo con đường truyền thống là chỉ đầu tư vào đào tạo có hiệu quả biên. Nếu người lao động là tài sản thì càng cung cấp nhiều kiến thức cho họ hơn, giá trị của họ đối với tổ chức sẽ lớn hơn, vấn đề là làm thế nào để đo được nó. Cách tiếp cận truyền thống là cung cấp nhiều kiến thức cho người lao động thông qua đào tạo không đạt được mục tiêu do hai nguyên nhân : thứ nhất là việc cung cấp nhiều kiến thức không tạo điều kiện thuận lợi cho năng lực học tập của một cá nhân ; thứ hai là không thể tạo thành vốn dựa trên khả năng cung cấp các cơ hội đào tạo của tổ chức. Lý do là vì những người lao động là những người tham dự chủ động vào quá trình học tập, họ là những người chủ vốn nhân lực, những người cần kiểm soát toàn bộ quá trình học tập và tham dự vào việc sáng tạo và truyền đạt kiến thức.

 Một số nhà nghiên cứu cho rằng có hai dạng kiến thức cơ bản là kiến thức ngầm và kiến thức hiện. Kiến thức ngầm bao gồm những kiến thức mà con người biết nhưng không thể diễn đạt một cách rõ ràng. Con người nhận thức được chúng thông qua các biểu tượng, sự tương tự, các ký hiệu và các biểu hiện nhận thức khác. Bởi vậy, cách tốt nhất để truyền tải kiến thức ngầm giữa những người lao động là tạo ra và tận dụng các cơ hội để đưa những người có kiến thức làm việc với những người cần kiến thức đó. Với ý nghĩa này, nhóm làm việc tỏ ra là một phương tiện hữu hiệu đối với quá trình học tập không chính quy.

Kiến thức hiện hay còn gọi là kiến thức được hệ thống hoá đề cập đến loại kiến thức mà con người sáng tạo ra và truyền tải chúng thông qua ngôn ngữ một cách chính quy và có hệ thống. Đây cũng là một dạng kiến thức rất có giá trị và bền vững. Kiến thức hiện, ngay khi được nắm bắt ở dạng hữu hình có thể duy trì lâu dài trong tổ chức sau khi được con người tạo ra và ghi chép bằng văn bản. Với dạng kiến thức này, học tập chính quy sẽ giúp người lao động tiếp thu kiến thức tốt hơn so với học tập không chính quy.

2. Thực trạng quá trình tạo vốn nhân lực chuyên môn của cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong các doanh nghiệp may Việt Nam

2.1 Công tác đào tạo cán bộ quản lý cho doanh nghiệp may

Cũng như nhiều doanh nghiệp ở các ngành nghề khác, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp may bao gồm cán bộ quản lý cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở vì thế công tác đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp may cũng tập trung vào ba cấp quản lý này.

2.1.1- Công tác đào tạo cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung cho các doanh nghiệp may

Cán bộ quản lý cấp cao như hội đồng quản trị, ban giám đốc ; cán bộ cấp trung là trưởng các phòng ban chức năng được đào tạo tại các trường chính quy về quản lý. Công tác đào tạo các kỹ năng quản lý ở các trường chính quy nói chung là tốt. Tuy nhiên, để các cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung có thể làm tốt công tác lãnh đạo của mình thì ngoài các kỹ năng quản lý chung, đội ngũ cán bộ quản lý này cần phải có thêm một số kiến thức về kỹ thuật chuyên ngành may như kỹ năng quản lý dây chuyền may, quản lý chất lượng sản phẩm may… Những kiến thức chuyên ngành này chính là khoảng trống mà hiện nay các trường đào tạo về quản lý chưa có giải pháp hữu hiệu để bù đắp cho người học, đây chính là yếu tố ảnh hưởng không tốt tới việc hình thành vốn nhân lực chuyên môn trong các doanh nghiệp may. Nhận thức rõ yếu điểm này, đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung trong doanh nghiệp may thường được doanh nghiệp cho đi bồi dưỡng ngắn hạn các kiến thức, kỹ năng chuyên ngành may như đã nói ở trên hoặc doanh nghiệp tự bồi dưỡng theo hình thức đào tạo trong công việc (On the Job Training).

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung nhưng làm việc tại phân xưởng sản xuất như quản đốc, phó quản đốc…thì có cả lao động được đào tạo tại các trường chính quy về quản lý như đã nói ở trên nhưng đại đa số lại là những công nhân lành nghề được doanh nghiệp bồi dưỡng thêm để nắm giữ những chức vụ này. Họ thường được đào tạo, bồi dưỡng tại các trường dạy nghề hoặc đại học, cao đẳng có đào tạo chuyên ngành may, sau đó được các doanh nghiệp cử đi học theo hình thức vừa làm vừa học, bằng đại học thứ hai hoặc được cử đi bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý. Đây cũng là một thực trạng đáng quan tâm trong quá trình đào tạo nhân lực quản lý cho ngành may, nhất là đối với những cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành may ở cấp trình độ đại học và cao đẳng.

Hiện nay, các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành may ở bậc đại học và cao đẳng chỉ xác định công việc chủ yếu của sinh viên sau khi tốt nghiệp là làm các công việc về kỹ thuật trong doanh nghiệp may vì vậy các kiến thức về quản trị doanh nghiệp may thường được đưa vào chương trình đào tạo với thời lượng không tương xứng với vị trí quản lý doanh nghiệp may. Có thể thấy rõ vấn đề này ở chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ may ở một số trường đại học và cao đẳng tại Việt Nam trong đó thời lượng các nội dung về quản lý trong chương trình đào tạo chỉ chiếm từ 3,5 – 6,4%. Với thời lượng như trên, sinh viên sau khi tốt nghiệp thường không thể đảm nhiệm các vị trí quản lý tại các doanh nghiệp may được mà thường phải bồi dưỡng thêm các kiến thức về quản lý qua các khoá bồi dưỡng ngắn hạn. Như vậy, quá trình tạo vốn nhân lực chuyên môn đối với cán bộ quản lý cấp trung của các doanh nghiệp may phải trải qua cả đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy.

2.1.2- Công tác đào tạo cán bộ quản lý cấp cơ sở cho các doanh nghiệp may

Cán bộ quản lý cấp cơ sở trong doanh nghiệp may là các chức danh như trưởng ca, tổ trưởng, tổ phó. Các cán bộ ở cấp quản lý này đại đa số là các công nhân có tay nghề tương đối tốt, có tâm huyết với doanh nghiệp nên được doanh nghiệp giữ lại làm bộ khung quản lý cấp cơ sở. Qua khảo sát cán bộ quản lý cấp cơ sở tại các doanh nghiệp may, có thể thấy rằng một số được đào tạo tại các trường dạy nghề may chính quy, một số được đào tạo ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề may và một số ít nữa do doanh nghiệp tự đào tạo. Trong những chương trình dạy nghề may cho các đối tượng trên, hầu như không đề cập đến những kiến thức về quản lý chuyên ngành may nên những cán bộ này không có kiến thức về quản lý vì vậy khi được đề bạt thành tổ trưởng hoặc trưởng ca để quản lý một tổ sản xuất hoặc một ca sản xuất thường rất lúng túng và quản lý không có hiệu quả vì kiến thức về quản lý mà họ có được là do tự quan sát và trau dồi trong quá trình làm công nhân may tại doanh nghiệp, không được đào tạo một cách có hệ thống. Đây chính là những bất cập làm giảm chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may trong một giai đoạn tương đối dài do tác động của yếu tố quản trị doanh nghiệp may mà cụ thể là công tác đào tạo và sử dụng cán bộ quản lý cấp cơ sở chưa hợp lý.

Hiện nay một số doanh nghiệp đã nhận ra vấn đề trên nên đã cải tiến công tác đào tạo và sử dụng cán bộ quản lý cấp cơ sở thông qua việc tổ chức các khoá học ngắn hạn về quản lý tổ sản xuất cho đội ngũ này, thậm chí có những doanh nghiệp đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý tổ sản xuất cho 100% cán bộ quản lý cấp cơ sở. Những chương trình bồi dưỡng ngắn hạn này đều do các trường chính quy xây dựng và giảng dạy theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Nội dung chương trình thường tập trung vào các chuyên đề về quản lý và điều hành tổ sản xuất, có nhiều lớp bồi dưỡng còn yêu cầu cung cấp thêm các kiến thức sơ lược về chuẩn bị sản xuất chuyên ngành may. Những lớp học này thường được tổ chức ngay tại doanh nghiệp nên học viên có cơ hội trao đổi với giảng viên về những vấn đề xảy ra trong thực tế sản xuất liên quan đến bài học. Qua những chuyên đề như trên, các cán bộ quản lý cấp cơ sở này đã tiếp thu được một cách có hệ thống các kiến thức về quản lý tổ sản xuất, điều này đã giúp họ quản lý dây chuyền may một cách có hiệu quả hơn.

Ngoài những ưu điểm như đã đề cập ở trên, các chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp cơ sở ở trên cũng đã bộc lộ một số những nhược điểm như sau :

– Có một số chương trình bồi dưỡng do các trường không đào tạo chuyên ngành may thiết kế do đó những kiến thức về quản lý trong những chương trình này không đề cập nhiều đến quản lý tổ sản xuất chuyên ngành may mà chỉ là những kiến thức quản lý chung vì vậy trong thời gian bồi dưỡng ngắn, lượng kiến thức cung cấp cho học viên không được nhiều mà lại không cụ thể về ngành may nên phần nào làm hạn chế hiệu quả của các khoá bồi dưỡng này.

– Giáo viên giảng dạy các khoá bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý cho cán bộ quản lý cấp cơ sở trong các doanh nghiệp may thường có rất ít kinh nghiệm về thực tế sản xuất của ngành may nên gặp nhiều khó khăn khi thiết kế các bài tập hoặc các tình huống để mô phỏng sát với thực tế của ngành may vì vậy việc truyền đạt kiến thức quản lý chuyên ngành cũng bị hạn chế về hiệu quả.

– Về công tác quản lý : hầu hết doanh nghiệp không có bộ phận chuyên trách về đào tạo nguồn nhân lực nên việc tổ chức xác định nhu cầu đào tạo, tổ chức đào tạo…cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp không được thực hiện có hiệu quả. Đây cũng là một khâu yếu trong doanh nghiệp may do ảnh hưởng của yếu tố quản trị doanh nghiệp gây ra dẫn đến giảm chất lượng vốn nhân lực của doanh nghiệp

Như vậy, vốn nhân lực chuyên môn của cán bộ quản lý cấp cơ sở trong các doanh nghiệp may chủ yếu được tạo thành thông qua kinh nghiệm tiếp nhận được trong thực tế sản xuất và qua các khoá đào tạo trong công việc.

2.2 Công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp may

Lực lượng cán bộ kỹ thuật trong các doanh nghiệp may bao gồm các cán bộ phụ trách công nghệ sản xuất. Công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các doanh nghiệp may cũng được các cơ sở đào tạo tập trung vào lĩnh vực đào tạo nhân lực này. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật làm các công tác về công nghệ sản xuất của ngành may có đặc điểm tương đối khác với các ngành nghề khác. Nghề may là nghề bán thủ công, cho đến năm 2012, có thể nói rằng, sản xuất của ngành may vẫn chủ yếu là sản xuất gia công vì vậy mặc dù có sự trợ giúp của nhiều thiết bị hiện đại nhưng tay nghề của đội ngũ cán bộ kỹ thuật vẫn hết sức quan trọng.

Tính đến năm 2012, đội ngũ cán bộ kỹ thuật công nghệ chuyên ngành may được đào tạo tại 23 trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Số lượng tuyển sinh viên chuyên ngành may của các trường rất khác nhau, có trường tuyển rất ít, chỉ khoảng 20 – 30 sinh viên/năm, có trường tuyển tương đối nhiều, nhất là các trường chính quy thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, tuyển khoảng 3000 sinh viên ngành may/năm nhưng chỉ ở bậc cao đẳng. Cả nước chỉ có 12 trường đại học đào tạo nhân lực kỹ thuật cho ngành công nghiệp may ở trình độ đại học nhưng chỉ tuyển được khoảng 300 sinh viên/năm, chưa đáp ứng được 15% nhu cầu của toàn ngành. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may thấp và ngành công nghiệp may không thể chuyển đổi nhanh từ sản xuất gia công sang phương thức sản xuất mua đứt bán đoạn.

Chương trình đào tạo ở bậc đại học và cao đẳng ngành công nghệ may của các trường có đào tạo cán bộ kỹ thuật công nghệ chuyên ngành may cũng rất khác nhau, cụ thể như sau : cùng ở bậc đại học nhưng thời lượng đào tạo có trường chỉ là 173 tín chỉ nhưng cũng có trường tới 231 tín chỉ. Thời lượng chênh lệch nhau như vậy chắc chắn dẫn đến nội dung đào tạo của các trường cũng khác nhau nhiều.

Nội dung chương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật công nghệ chuyên ngành may có rất nhiều nhược điểm :

– Trong phần cơ sở ngành, có một số trường đưa vào rất nhiều học phần không liên quan hoặc rất ít có liên quan đến chuyên ngành may. Có một số cơ sở đào tạo thường gắn việc đào tạo chuyên ngành may với một số chuyên ngành khác thành các ngành như ngành công nghệ dệt may, ngành may và thời trang. Việc gắn các ngành đào tạo này lại với nhau trong một chương trình đào tạo vô hình chung đã làm các trường này xác định mục tiêu đào tạo rất khó hoặc xác định được mục tiêu đào tạo nhưng lại thuộc hai chuyên ngành khác nhau nên sinh viên không được học chuyên sâu vào chuyên ngành nào vì thế kiến thức và kỹ năng của cả hai chuyên ngành đều yếu, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.

– Trong chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ may, thời lượng sinh viên được trực tiếp thực hành trên sản phẩm thực rất ít, có trường chỉ có 10/286 đơn vị học trình (chiếm 3,5%). Chính vì lý do này mà hiện nay nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu kỹ năng thực hành trong thực tiễn sản xuất tại doanh nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng trên là do một số trường đại học, cao đẳng xác định mục tiêu đào tạo không đúng, nhất là mục tiêu về kỹ năng thực hành. Mặt khác, do chi phí để mua nguyên phụ liệu thực hành tương đối cao nên nhiều trường không muốn cho sinh viên thực hành nhiều.

3- Giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực của cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong các doanh nghiệp may Việt Nam từ trong quá trình tạo vốn nhân lực

3.1- Hoàn thiện công tác xác định nhu cầu đào tạo nhân lực ngành may

Nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng lớn tới chất lượng vốn nhân lực. Về bản chất, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp chính là nhu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người lao động sở hữu sau khi kết thúc quá trình đào tạo; nhu cầu sử dụng lao động còn thể hiện số lượng người lao động cần thiết phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp may sở hữu những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần cho doanh nghiệp. Trong khi đó kiến thức, kỹ năng, thái độ chính là các thành phần cơ bản cấu thành nên vốn nhân lực, vì vậy có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp có phần nội dung cốt lõi là nhu cầu về vốn nhân lực mà các trường cần cung cấp cho các doanh nghiệp may. Vốn nhân lực do các trường tạo ra càng gần với nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp may thì có nghĩa là chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may đã được nâng cao. Với ý nghĩa đó, việc xác định nhu cầu đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp may gắn liền với yêu cầu nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may và để làm tốt khâu này, các cở sở đào tạo cần thực hiện tốt một số giải pháp sau :

+ Các cơ sở đào tạo, nhất là các trường chính quy cần phải căn cứ vào những quy hoạch cụ thể phát triển ngành may theo chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2015. Cần đặc biệt chú ý tới xu hướng chuyển các doanh nghiệp may về các vùng nông thôn nhằm giải quyết vấn đề thu hút lao động. Như vậy, chắc chắn rằng nhu cầu đào tạo lao động nông thôn thành công nhân kỹ thuật may sẽ rất lớn và đây cũng sẽ là những thách thức lớn cho công tác đào tạo nhân lực cho ngành may trong thời gian tới vì khu vực nông thôn thường là các tỉnh còn nghèo, thu nhập thấp, trình độ giáo dục cũng thấp, ý thức lao động công nghiệp chưa cao là rào cản rất lớn trong việc nâng cao chất lượng vốn nhân lực cho ngành may của các trường.

+ Việc xác định nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực dệt may cần chú trọng đến việc xác định kiến thức, kỹ năng, thái độ của những loại nhân lực giúp các doanh nghiệp may khai thác được giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu của các sản phẩm may như đã đề cập đến ở trên như nhân lực thiết kế thời trang, xây dựng thương hiệu, phát triển kênh phân phối, quản trị sản xuất, merchandiser cho ngành may…Trong điều kiện thực tế của các doanh nghiệp may hiện nay, chủ yếu vẫn sản xuất theo phương thức gia công và đang có xu hướng chuyển dịch dần sang sản xuất theo phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm thì cần chú trọng tới việc xác định nhu cầu đào tạo của một loại nhân lực hết sức quan trọng là nhân lực merchandiser. Đây là loại nhân lực giúp thực hiện việc kết nối chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp may, các nhà sản xuất may mặc trong nước và các kênh phân phối của các doanh nghiệp may. Loại nhân lực này hiện chưa có cơ sở nào ở Việt Nam tiến hành đào tạo và đây cũng là loại nhân lực đòi hỏi nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ có tính tổng hợp cao, giúp nâng cao đáng kể chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may hiện nay vì đây chính là những kiến thức và kỹ năng mà các doanh nghiệp may đang rất muốn có để nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm của mình.

3.2- Nâng cao trình độ và số lượng đội ngũ giảng viên

 Trình độ đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, tức là quyết định mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học đạt được sau khi kết thúc khoá đào tạo. Chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may phụ thuộc nhiều vào trình độ đội ngũ giảng viên của các trường đào tạo nhân lực cho ngành may. Theo số liệu khảo sát, so với bình quân toàn hệ thống giáo dục đại học, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên của các trường có đào tạo chuyên ngành may chỉ bằng 42,3% toàn hệ thống; so với yêu cầu tối thiểu về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên của các trường đại học, cao đẳng thì tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên của các trường có đào tạo chuyên ngành may chỉ bằng 35,8%. Như vậy, muốn nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo nhân lực chính quy cho ngành công nghiệp may nhằm nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ lên ít nhất là ngang bằng với bình quân toàn hệ thống vào năm 2015.

Về số lượng giảng viên giảng dạy trong các trường đào tạo nhân lực cho ngành may. Một trong những yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và cũng là yếu tố đảm bảo chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may là số lượng sinh viên/giảng viên. Các trường đào tạo nhân lực cho ngành may cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng cường đội ngũ giảng viên nhằm giảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên hiện nay là 39,8 sinh viên/giảng viên xuống bằng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Bộ Lao động Thương binh Xã hội là 20 học sinh sinh viên/giảng viên. Tỷ lệ này giảm xuống sẽ giúp giảng viên không phải dạy vượt quá nhiều giờ so với tiêu chuẩn. Giảng viên có thể đầu tư nhiều thời gian hơn cho công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu phương pháp giảng dạy mới, cập nhật công nghệ mới theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp…để truyền đạt và hướng dẫn cho học sinh sinh viên tiếp cận với những kiến thức, kỹ năng mới. Đây chính là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may.

Phân tích cụ thể đối với giảng viên ở từng cấp trình độ, có thể thấy đội ngũ giảng viên cần được kiện toàn ở các khía cạnh sau đây :

Đối với nhóm giảng viên đào tạo cán bộ kỹ thuật cho ngành may, ngoài trình độ lý thuyết còn đòi hỏi phải có kỹ năng thực hành tốt, có như vậy mới có thể đào tạo được đội ngũ nhân lực kỹ thuật và công nhân có kỹ năng thực hành tốt, nâng cao mức vốn nhân lực của đội ngũ này nhằm đáp ứng với nhu cầu vốn nhân lực của doanh nghiệp. Điều này trực tiếp làm tăng chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may.

Đối với giảng viên giảng dạy về quản lý cho ngành may, cần cập nhật thêm những kiến thức cơ bản về chuyên ngành may cũng như tăng cường tham quan, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp may để có thể tìm hiểu sâu những đặc điểm riêng của quá trình quản lý trong ngành may cũng như thiết kế được các bài tập thực hành ứng dụng vào xử lý các tình huống quản lý trong ngành may. Có như vậy thì học viên mới có thể vận dụng được những kiến thức được học vào nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp may sau khi kết thúc khoá học.

3.3- Hoàn thiện chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo thể hiện rõ các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học cần đạt được sau khóa học. Mặt khác, trong chương trình đào tạo còn thể hiện rõ các nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo cũng như các điều kiện cần thiết để giúp người học tiếp thu được các kiến thức, kỹ năng và thái độ đã đề ra trong mục tiêu đào tạo. Như vậy, chương trình đào tạo chính là bản kế hoạch đặt ra để tăng cường mức vốn nhân lực cũng như nâng cao chất lượng vốn nhân lực cho những người tham gia học tập theo chương trình đào tạo này. Với ý nghĩa đó, việc cải tiến chương trình đào tạo trong các trường chính quy đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo dựng vốn nhân lực và nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may.

Đối với các chương trình đào tạo cán bộ quản lý : các chương trình đào tạo cán bộ quản lý cho ngành may cần phải được xây dựng có tính đến những đặc thù riêng của ngành may. Đối với cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung làm việc tại các phòng ban thì nên xây dựng các chương trình đào tạo ngắn hạn để cập nhật thêm những kiến thức về quản lý chuyên sâu của ngành may như : quản lý doanh nghiệp may, quản lý chất lượng trong ngành may, marketing sản phẩm may mặc…Đối với công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp trung nhưng làm việc trực tiếp tại các phân xưởng may hoặc cán bộ quản lý cấp cơ sở như tổ trưởng các tổ sản xuất hàng may mặc thì khi xây dựng chương trình bồi dưỡng cần chú ý đưa nhiều nội dung quản lý cụ thể của ngành may vào như : quản lý lương sản phẩm trong dây chuyền may, quản lý năng suất trong dây chuyền may, quản lý thiết bị trong dây chuyền may…

Đối với chương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật công nghệ may, cần chú ý tăng cường thời lượng thực hành vì ngành may là ngành có tính thực hành cao. Để đảm bảo tăng cường thời lượng thực hành một cách có hiệu quả, các cơ sở đào tạo cần chuẩn bị tốt sản phẩm cho sinh viên thực hành bằng một số giải pháp như nhận hàng trực tiếp từ thị trường cho sinh viên thực tập hoặc tự thiết kế sản phẩm, tự mua vật tư để sản xuất và bán hàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bộ Công Thương (2008), Quyết định số 39/2008/QĐ-BCT, Hà Nội

2- Chính phủ (2008), Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg, Hà Nội.

3- Hoàng Xuân Hiệp (2006), “Hoàn thiện công tác xác định nhu cầu đào tạo và gắn

đào tạo với sản xuất kinh doanh tại các trường chính quy của Tập đoàn Dệt May

Việt Nam” , Tạp chí Kinh tế phát triển, (104), tr. 52 – 56

4- Hoàng Xuân Hiệp (2010), “Mô hình vốn nhân lực và giải pháp áp dụng đối với

ngành công nghiệp dệt may Việt Nam”, Tạp chí công nghiệp, tr. 38 – 41

5-Thomas O. Davenport (1999), Human Capital – What is it and Why people Invest

   it, Jossey-Bass Publisher, San Francisco

6- Tập đoàn Dệt May Việt Nam (2007), Báo cáo nhu cầu đào tạo nguồn nhân

lực của Tập đoàn Dệt May Việt Nam, Hà Nội.

 

 .ban may loc nuoc binh tan gia re cong ty thiet ke web tphcm may may dong phuc tai tphcm mua ban container gia re mua dan guitar gia re ban mat ong rung nguyen chat dai ly ong nhua tien phong cuoc thi nhay vu dao banmay nuoc nong nang luong mat troi tai tphcm dau dau chong mat quan Cafe Pho MacCoffee tu nhom tien dat

Bài viết liên quan:

Tải phần mềm | Thủ thuật máy tính hay | Download Itunes |