Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Ngày đăng: 04:49 - 30/12/2017 Lượt xem: 475

Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

                                                                                     

TS Hoàng Xuân Hiệp

Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội

 

          Một trong những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ  được đề cập đến trong những năm gần đây là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là cuộc cách mạng lần thứ tư trong lĩnh vực khoa học công nghệ và có tác động sâu rộng đến tất cả các ngành kinh tế trong đó có ngành công nghiệp dệt may. Hiện nay trên thế giới, việc ứng dụng những thành tựu của công nghiệp 4.0 vào quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm dệt may đã được các nước phát triển thực hiện một cách phổ biến trên cả bốn khía cạnh là đổi mới sản phẩm dệt may, đổi mới quy trình sản xuất dệt may, đổi mới công tác quản lý trong ngành dệt may và đổi mới marketing cho sản phẩm dệt may. Tại Việt Nam, việc ứng  dụng công nghiệp 4.0 vào ngành dệt may được triển khai khá chậm. Bên cạnh những nguyên nhân về nhận thức, vốn…thì một trong những nguyên nhân chủ yếu và cũng là rào cản lớn nhất dẫn đến sự chậm trễ này là do thiếu hụt nguồn nhân lực đủ khả năng làm việc trong thời kỳ ứng dụng công nghiệp 4.0 vào ngành dệt may. Bài báo này hướng đến mục tiêu đánh giá nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành dệt may, từ đó đề xuất các giải pháp để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành đáp ứng thời kỳ công nghiệp 4.0.
 

          Từ khóa: công nghiệp 4.0, đào tạo, nguồn nhân lực, dệt may.
 

1- Cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực dệt may
 

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là sự mở ra một kỷ nguyên số trong đó xu hướng chủ đạo là sự kết hợp giữa các hệ thống thực và ảo, internet kết nối vạn vật (IOT) và các hệ thống kết nối internet (IOS). Nền tảng của cuộc cách mạng này là các đột phá của công nghệ số về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano. Các công nghệ nền tảng của thời kỳ Internet vạn vật (Internet of things – IoT) là nhận dạng vô tuyến (RFID), cảm biến (sensor) có dây và không dây, in 3D, điện toán đám mây (cloud computing), các robot có kết nối, phần mềm có khả năng tự kết nối và tương tác qua mạng, phân tích dữ liệu lớn (big data). Các giải pháp trên đã và sẽ tạo ra nhiều đổi mới, sáng tạo trong quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm dệt may bao gồm toàn bộ các giai đoạn từ khâu thiết kế sản phẩm, cung ứng nguyên phụ liệu, sản xuất, xuất khẩu và marketing.
 

Trong khâu thiết kế: khác với phương pháp truyền thống, các số đo cơ thể người được thu thập bằng cách sử dụng máy quét 3D. Nguyên lý của công nghệ này là sử dụng các kỹ thuật quang học kết  hợp với các thiết bị cảm biến ánh sáng để thu thập số đo cơ thể người ở bất cứ địa điểm nào mà không cần phải di chuyển đến địa điểm đó. Ưu điểm của phương pháp này là có thể đo cơ thể người từ tất cả các thị trường  khác nhau trên thế giới mà không cần tiếp xúc trực tiếp, sau đó có thể phân chia cơ thể người thành 25 cỡ khác nhau với chỉ khoảng 1000 quan sát nhằm cá nhân hóa số đo cho từng cơ thể riêng...Với công nghệ này, việc kết hợp số đo thu được với các phần mềm thiết kế sản phẩm sẽ tạo ra một quy trình thiết kế bằng các số đo ảo, phần mềm ảo, người ảo nhưng cuối cùng sẽ tạo ra sản phẩm thực và được cá nhân hoá đến từng người dùng.
 

Trong khâu sản xuất sợi: quá trình tự động hóa, sử dụng robot... được áp dụng rộng rãi vào tất cả các công đoạn từ chuẩn bị bông đến đóng gói sản phẩm. Theo nhiều chuyên gia, cách đây 10 năm, doanh nghiệp sợi cần sử dụng 100 -110 lao động cần thiết để vận hành một nhà máy có quy mô một vạn cọc sợi, nhưng khi áp dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất, số lượng nhân lực giảm chỉ còn 25-35 lao động để vận hành nhà máy có quy mô tương tự.
 

Trong khâu dệt vải: công nghiệp 4.0 đã giúp sáng tạo ra máy dệt kim 3D để dệt trực tiếp ra sản phẩm bằng cách nhập các thông số sản phẩm vào máy tính và sử dụng phần mềm điều khiển máy dệt 3D tạo ra sản phẩm mà không cần quá trình may. Bên cạnh đó, trong công nghệ dệt thoi, hệ thống Internet kết nối vạn vật IoT kết hợp với sử dụng công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID cho phép chuyển chính  xác các ống sợi tự động vào các máy dệt để sản xuất vải nhằm tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất. Công nghệ 4.0 đã tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các máy dệt và đã tạo ra sự thay đổi lớn trong công tác quản lý nhà máy dệt. Bên cạnh công nghệ dệt, những thành tựu của công nghiệp 4.0 đã sáng tạo ra nhiều vật liệu mới có tính năng đặc biệt để sản xuất các sản phẩm may như vật liệu có tính năng kiểm soát tình trạng sức khỏe, tự thay đổi màu sắc theo sở thích của người mặc hoặc vật liệu có thế kết nối Internet...
 

Trong khâu nhuộm, hoàn tất: bên cạnh việc ứng dụng các robot và tự động hóa cao trong quy trình sản xuất, ngành nhuộm còn có sự thay đổi căn bản về quá trình làm ra công thức màu và kiểm soát quá trình nhuộm bằng cách sử dụng dữ liệu lớn. Với phương thức này, các nhà máy nhuộm có thể tổ chức lưu trữ các công thức nhuộm trong quá khứ thành công, chất lượng tốt để từ đó sáng tạo ra các  công thức nhuộm mới với độ chính xác cao và chất lượng tốt cho quá trình sử dụng, giúp nhà máy nhuộm nâng cao tỷ lệ nhuộm chính xác ngay lần đầu tiên lên tới 95-99%.
 

Trong khâu may: đối với các sản phẩm cơ bản như áo T-Shirt, áo sơ mi cơ bản, quần âu, quần jean thì quá trình sản xuất đã được thay thế bằng robot giúp nâng cao chất lượng và đặc biệt là nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm. Đối với các sản phẩm thời trang nhưng được chế tạo bằng vật liệu có thể kết dính như plastic hay sợi polyester...thì quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện trên máy in 3D, vừa cho năng suất cao, vừa giảm được giá thành sản phẩm. Tuy vậy, việc ứng dụng công nghệ 4.0 đối với ngành may cũng có nhiều hạn chế. Cụ thể là để sản xuất các sản phẩm có những tính chất đặc biệt như: sản phẩm thời trang được thiết kế thành nhiều lớp, có kiểu dáng và kết cấu phức tạp, thay đổi thường xuyên theo thị trường và được sản xuất bằng vật liệu không kết dính thì việc ứng dụng công nghệ 4.0 rất khó khăn hoặc chi phí đầu tư rất lớn nên chưa mang lại hiệu quả để có thể triển khai ngay trong 10 – 15 năm tới.
 

Trong toàn bộ các khâu sản xuất từ sợi, dệt, nhuộm, may, bên cạnh việc ứng dụng các công nghệ 4.0 trong sản xuất, các doanh nghiệp còn đổi mới cả quy trình quản  lý doanh nghiệp theo công nghệ 4.0 bằng cách sử dụng các phần mềm chuyên dụng như phần mềm quản lý nguồn lực doanh nghiệp ERP cho phép quản lý toàn bộ nguồn lực chủ yếu của doanh nghiệp từ đầu vào đến khi xuất hàng. Ngoài phần mềm ERP, nhiều doanh nghiệp còn sử dụng phần mềm quản lý vòng đời sản phẩm PLM nhằm truy cập và quản lý thông tin sản phẩm một cách an toàn; duy trì tính toàn vẹn thông tin trong suốt vòng đời sản phẩm; xây dựng, quản lý và chia sẻ quy trình kinh doanh dựa trên dữ liệu sản phẩm. Phần mềm quản lý vòng  đời sản phẩm được đánh giá là phương tiện liên kết các bộ phận và cho phép tạo nên sự giao tiếp rõ ràng, hiệu quả giữa nhiều bên trong sản xuất kinh doanh.
 

Trong khâu logistic: khi ứng dụng công nghệ 4.0,  bộ phận logistics có thể phối hợp chặt chẽ với các đơn vị khác trong toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm như: kết nối các công đoạn của quá trình sản xuất, quản lý kho nguyên liệu và thành phẩm, quản lý quá trình phân phối, bán hàng, quản lý quá trình thanh toán đơn hàng...từ đó, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chi phí cho công tác vận hành chuỗi cung ứng mà vẫn có thể đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng.
 

Trong khâu marketing: công nghệ 4.0 cho phép phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử trong lĩnh vực dệt may. Hiện nay, Tổng công ty may 10 đã đưa sản phẩm lên quảng bá và bán hàng tại cổng thông tin điện tử của Amazon và một thống kê cũng cho thấy  có tới 55% khách hàng vào thẳng trang Amazon để tìm kiếm sản phẩm, thay vì vào các trang bán hàng riêng của nhà sản xuất; đặc biệt là nếu thực hiện thương mại điện tử thông qua các thiết bị di động thì doanh nghiệp dệt may hoàn toàn có thế quảng bá sản phẩm qua hình ảnh 3D, thu thập dữ liệu về khách hàng để phân tích nhu cầu thị trường.

2- Thực trạng nhân lực dệt may xét dưới góc độ tiếp cận với công nghiệp 4.0

 

Để có thể tiếp cận với công nghiệp 4.0 như phân tích tại mục 1, nguồn nhân lực dệt may cần được đào tạo một cách có hệ thống ở trình độ đại học và cao đẳng, đặc biệt là cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật. Thống kê nhân lực dệt may trình độ đại học, cao đẳng được thể hiện trong bảng sau đây:
 

Bảng 1: Hiện trạng lao động dệt may trình độ đại học,cao đẳng

giai đoạn 2014-2016

Đơn vị tính: người

Tiêu chí

 

Năm

 

 

2014

2015

2016

Lao động trình độ đại học

49820

53261

57183

Lao động trình độ cao đẳng

54461

58258

62488

Tổng số lao động trình độ đại học, cao đẳng

104281

111519

119671

Nguồn: Ước lượng của tác giả từ số liệu của Tổng cục thống kê

 

Hiện nay, tỷ trọng các doanh nghiệp dệt may ở các phương thức sản xuất chủ yếu là:  70% CMT, 20% OEM, 9% ODM và chỉ có 1% doanh nghiệp tham gia phương thức sản xuất OBM cho thị trường nội địa hoặc một số thị trường dễ tính trong khu vực như Lào, Campuchia; phần lớn doanh nghiệp còn lại chỉ sản xuất theo phương thức gia công thuần túy CMT hoặc thực hiện phương thức sản xuất OEM. Qua phỏng vấn chuyên gia tại các doanh nghiệp, trong số 9% doanh nghiệp sản xuất theo phương thức ODM thì chỉ có 1% doanh nghiệp sản xuất để bán ra thị trường quốc tế. Chính vì các doanh nghiệp chủ  yếu sản xuất theo phương thức gia công nên giá trị gia tăng tạo ra thấp, quy mô vốn nhỏ và rất ít doanh nghiệp có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư cho công nghiệp 4.0.
 

Do nhu cầu nhân lực cho công nghiệp 4.0 tại doanh nghiệp dệt may không lớn nên các cơ sở đào tạo cũng không chú trọng đào tạo nhân lực cho công nghiệp 4.0 vì thứ nhất là phải chi phí nhiều nguồn lực để đào tạo đội ngũ giảng viên, xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng học liệu; hơn nữa, sinh viên tốt nghiệp rất khó tìm được việc làm đúng chuyên môn tại doanh nghiệp. Chính vì vậy mà nguồn nhân lực dệt may có thể tiếp cận với công nghiệp 4.0, đặc biệt là nhân lực trình độ đại học và cao đẳng vừa thiếu lại vừa yếu.
 

3- Nhu cầu nhân lực dệt may cho cách mạng công nghiệp 4.0
 

          Các phân tích nêu trên cho thấy sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may dưới áp lực của cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra hết sức mạnh mẽ trong giai đoạn tới đây, khi mà xu hướng tận dụng lao động giá rẻ trong ngành dệt may đã không còn phù hợp do mức thu nhập bình  quân của nhân lực dệt may hiện tại đã đạt khoảng 300-350 USD/người/tháng. Trong xu thế phát triển đó, nhân lực đang và sẽ làm việc trong ngành dệt may cần phải được đào  tạo, bồi dưỡng, trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng cũng như phẩm chất cần thiết để giúp ngành dệt may Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.
 

3.1 Nhu cầu về chất lượng nhân lực cần thiết cho cách mạng 4.0 trong dệt may
 

Theo đánh giá của các chuyên gia, khi ứng dụng những thành tựu của công nghiệp 4.0 vào sản xuất, sẽ có khoảng 50% công việc hiện tại bị mất đi và sẽ có 50% công việc mới xuất hiện. Những năng lực phát sinh mới đòi hỏi nguồn nhân lực dệt may cần phải có để đáp ứng công nghiệp 4.0 bao gồm:
 

Đối với việc đổi mới sản phẩm: nguồn nhân lực dệt may cần có  năng lực nghiên cứu và phát triển các loại vật liệu mới sử dụng trong ngành dệt may để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dùng như: vật liệu có khả năng theo dõi và bảo vệ sức khỏe, vật liệu có khả năng kết nối Internet, vật liệu có thể tự thay đổi màu sắc...
 

Trong quy trình sản xuất, nguồn nhân lực dệt may cần có kỹ năng thiết kế sản phẩm sử dụng công nghệ 3D; có  khả năng vận hành dây chuyền tự động hóa cao bằng robot công nghiệp; có khả năng sử dụng máy in 3D, máy  dệt 3D để sản xuất sản phẩm.
 

Trong quản lý, nguồn nhân lực dệt may cần được trang bị năng lực sử dụng các phần mềm quản lý chuyên ngành như : phần mềm quản lý nguồn lực doanh nghiệp ERP, phần mềm quản lý  vòng  đời sản phẩm PLM...
 

Trong marketing, nguồn nhân lực dệt may đòi hỏi phải có kỹ năng sử dụng thương mại điện tử cho hoạt động sản xuất kinh doanh; bên cạnh đó, các chuyên viên marketing cần phải có năng lực triển khai marketing trong môi trường kỹ thuật số (digital marketing) mà công cụ hiện đang rất thông dụng hiện nay là marketing trên internet (Internet marketing).

 

3.2 Nhu cầu về số lượng nhân lực cần thiết cho cách mạng 4.0 trong dệt may

          Để có thể ứng  dụng công nghiệp 4.0 vào lĩnh vực dệt may, trước hết cần chuẩn bị đủ số lượng nhân lực cho các doanh nghiệp dệt may phù hợp với những lĩnh vực có khả năng ứng  dụng công nghệ 4.0. Đối với nhân lực quản lý và kỹ thuật, cần được đào tạo cơ bản ở trình độ đại học và cao đẳng với năng lực thực hiện được các công việc như mô tả tại mục 3.1. Mặt khác cần phải đào tạo lại số lượng nhân lực trực tiếp tại các nhà máy sản xuất để tiếp cận với công nghệ vận hành robot và các dây chuyền có tính tự động hóa cao. Việc cập nhật kiến thức cho nhân lực trực tiếp để đáp ứng công nghệ 4.0 thường sẽ do các hãng thiết bị thực hiện trong quá trình chuyển giao công nghệ, tuy vậy nhân lực ở trình độ đại học và cao đẳng cho công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực dệt may cần được dự báo để triển khai đào tạo một cách có hệ thống cho sự phát triển của ngành dệt may trong 10-15 năm tới.

           
Số lượng nhân lực dệt may trình độ đại học, cao đẳng vào năm 2025 và 2030 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2: Dự báo số lượng lao động dệt may trình độ đại học,cao đẳng

vào 2025 và 2030

Đơn vị tính: người

Tiêu chí

 Năm

 

2025

2030

Lao động trình độ đại học

92484

112096

Lao động trình độ cao đẳng

100558

121708

Tổng số lao động trình độ đại học, cao đẳng

193042

233804

Nguồn: Tổng hợp và dự báo của tác giả

 

          Căn cứ số liệu nhân lực cần có của trình độ đại học, cao đẳng ngành dệt may vào năm 2025 và 2030 như trình bày tại bảng 2, sau khi cộng với số nhân lực nghỉ hưu và biến động hằng năm khoảng 4% thì so với năm 2016, nhu cầu nhân lực cần đào tạo thêm tính đến 2025 và 2030 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3: Nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ đại học ngành dệt may

đến 2025 và 2030

                                                                             Đơn vị tính: người

TT

Tiêu chí

Năm

Năm

 

 

2025

2030

1

Tổng nhu cầu đào  tạo nhân lực trình độ đại học

65692

102232

1.1

Tổng nhu cầu đào tạo cán bộ quản lý trình độ đại học

21021

32714

1.2

Tổng nhu cầu đào tạo cán bộ nghiệp vụ trình độ đại học

44671

69518

1.2.1

Nhu cầu đào tạo cán bộ kỹ thuật Sợi, Dệt, Nhuộm, May, Thời  trang

19298

30032

1.2.2

Nhu cầu đào tạo cán bộ nghiệp vụ như Merchandiser, Marketing thời trang, quản lý chuỗi cung ứng...

25373

39486

Nguồn: Tổng hợp và dự báo của tác giả

   Bảng 4: Nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng ngành dệt may

đến 2025 và 2030

                                                                                       Đơn vị tính: người

TT

Tiêu chí

Năm

Năm

 

 

2025

2030

1

Tổng nhu cầu đào  tạo nhân lực trình độ cao đẳng

71471

111041

1.1

Tổng nhu cầu đào tạo cán bộ quản lý trình độ cao đẳng

25730

39975

1.2

Tổng nhu cầu đào tạo cán bộ nghiệp vụ trình độ cao đẳng

45741

71066

1.2.1

Nhu cầu đào tạo cán bộ kỹ thuật Sợi, Dệt, Nhuộm, May, Thời  trang

19760

30700

1.2.2

Nhu cầu đào tạo cán bộ nghiệp vụ như Merchandiser, Marketing thời trang, quản lý chuỗi cung ứng...

25981

40366

Nguồn: Tổng hợp và dự báo của tác giả

          Các dự báo nêu trên cho thấy để chuẩn bị nhân lực cho sự phát  triển của công nghiệp 4.0 trong ngành dệt may thì so với số nhân lực trình độ đại học và cao đẳng hiện tại, vào năm 2025, ngành dệt may Việt Nam sẽ cần thêm trên 130.000 so với năm 2016; vào năm 2030, ngành dệt may cần thêm trên 210.000 nhân lực trình độ đại học, cao đẳng so với năm 2016. Đây là một trong những thách thức rất lớn đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may nếu Việt Nam muốn chuẩn bị thật tốt nguồn nhân lực để không bị bỏ lại phía sau trong thời kỳ công nghiệp 4.0.

4- Giải pháp đào tạo nhân lực dệt may cho cách mạng công nghiệp 4.0

          Các phân tích nêu trên đều cho thấy việc ứng dụng công nghiệp 4.0 vào ngành dệt may là tất yếu, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi mà chu kỳ thay đổi công nghệ trong lĩnh vực dệt may ngày càng có xu hướng giảm, chỉ còn khoảng 15 năm đối với công nghệ sản xuất sợi, dệt, nhuộm và còn 3-5 năm đối với công nghệ sản xuất sản phẩm may mặc. Trước thực trạng đó, để đáp ứng nhu cầu nhân lực dệt may cho công nghiệp 4.0, công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải được thực hiện một cách có hệ thống tại tất cả các trường có đào tạo đại học và cao đẳng cho ngành dệt may, đặc biệt là tại trường đại học chuyên ngành dệt may như Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội. Các giải pháp chủ yếu nên được áp dụng bao gồm:

          - Chỉnh sửa chương trình đào tạo theo hướng cập nhật với công nghệ 4.0 trong cả lĩnh vực kỹ thuật công nghệ và lĩnh vực quản lý.

          - Mở thêm các chuyên ngành đào tạo theo hướng liên ngành để tiếp cận với công nghệ 4.0 như: kỹ thuật cơ điện tử trong thiết bị dệt may, tin học ứng  dụng trong lĩnh vực dệt may, thương mại điện tử, thiết kế thời trang bằng công nghệ 3D.

          - Đào tạo đội ngũ  giảng viên theo hướng nghiên cứu, cập nhật với công nghệ 4.0, đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may, quản lý...

          - Đầu tư thiết bị đào  tạo theo hướng cập nhật với công nghệ 4.0 như thiết bị tự động, robot công nghiệp.

          - Tổ chức cho sinh viên đi thực tập ở nước ngoài nhằm tiếp cận với môi trường làm việc có công nghệ tự động hóa, kết nối thực-ảo cao theo công nghệ 4.0.

          - Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường theo hướng đánh giá tác động của công nghiệp 4.0 đến lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, từ đó đề xuất giải pháp để đào tạo được nguồn nhân lực làm việc trong thời kỳ công nghiệp 4.0.

          - Duy trì quy mô đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học và cao đẳng cho ngành dệt may với mức khoảng 6000-8000 sinh viên tuyển mới/năm như hiện nay nhằm đảm bảo đủ nhân lực phục vụ cho chiến lược áp dụng công nghiệp 4.0 vào ngành dệt may.

          Bên cạnh các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực dệt may cho công nghiệp 4.0, các cơ sở đào tạo cũng như các doanh nghiệp dệt may cần chú trọng thực hiện cả các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho phương thức sản xuất ODM và OBM. Đây là hai phương thức chủ yếu sản xuất hàng thời trang, rất khó có thể tự động hóa và vẫn giữ được lợi thế tương đối của Việt Nam về sự khéo léo của người lao động cũng như giảm thiểu được yêu cầu phải sử dụng nguồn vốn quá lớn để đầu tư cho công nghiệp 4.0, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may có quy mô vừa và nhỏ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Bộ Công thương (2016), Đề tài nghiên cứu, xây dựng và đề xuất tiêu chí của nguồn nhân lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ) phù hợp với phương thức sản xuất ODM tại các doanh nghiệp may, Hà Nội.

2.      German Institutes for Textile and Fiber Research Denkendorf (2016),The New Revolution in  Textiles and Fashion Manufacturing:  Industry 4.0 and its Implications“, Amsterdam.

3.      Hiệp hội Dệt May Việt Nam (2013), Báo cáo khảo sát ngành dệt may Việt Nam, Hà Nội

4.      Michelini and Razzoli (2013),“Robotics in clothes manufacture“,  International Journal of Mechanical Engineering and Applications, Vol. 1, No. 1, pp. 17-27, Italy

5.      Tổng cục thống kê (2017), Niên giám thống kê 2016, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.

 Wilfried Aulbur and all (2016), “Skill development for Industry 4.0”, India

Liên kết website