Trang chủ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP DỆT MAY HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐẢM BÁO CHẤT LƯỢNG

TRIỂN KHAI TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH TỰ CHỦ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP DỆT MAY HÀ NỘI

Ngày đăng: 02:58 - 08/07/2021 Lượt xem: 546
Tự đánh giá là quá trình cơ sở giáo dục tự xem xét, nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để báo cáo về thực trạng chất lượng giáo dục, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác để cơ sở giáo dục tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.

Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học gồm: i) Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục; ii) Quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục. Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng gồm 4 mục sau: Đảm bảo chất lượng về chiến lược; Đảm bảo chất lượng về hệ thống; Đảm bảo chất lượng về thực hiện chức năng; Kết quả hoạt động.
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học theo TT12/2017
Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội mới được thành lập năm 2015 trên cơ sở nâng cấp từ trường cao đẳng. Hiện tại, Trường đào tạo 8 ngành trình độ đại học chuyên phục vụ cho sự phát triển của ngành dệt may (Công nghệ May; Công nghệ Sợi, Dệt; Quản lý công nghiệp; Marketing Thời trang; Công nghệ kỹ thuật cơ khí; Công nghệ kỹ thuật Điện, Điện tử; Thiết kế Thời trang; Kế toán). Ngoài ra, Nhà trường thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng theo nhu cầu của doanh nghiệp như Giám đốc nhà máy dệt may thành viên, tổ trưởng sản xuất ngành may, quản lý chất lượng, cán bộ kỹ thuật, quản lý thiết bị, quản lý đơn hàng – Merchandiser, tiếng Anh chuyên ngành dệt may, …
Với chủ trương lấy chất lượng giáo dục làm nền tảng, ngay từ khi chuẩn bị mở ngành và đào tạo đại học khóa 1, Nhà trường đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng. Trong quá trình đào tạo, các điều kiện này là “mốc tham chiếu” để “đo” các hoạt động. Đồng thời, Nhà trường đã thành lập Hội đồng tự đánh giá do đồng chí hiệu trưởng làm chủ tịch và 22 thành viên (Gồm cán bộ chủ chốt, sinh viên và đại diện doanh nghiệp/hội cựu sinh viên). Hội đồng tiến hành tự đánh giá sơ bộ trong thời gian 36 tuần, từ ngày 01/10/2018 đến ngày 01/6/2019, sau đó tiếp tục triển khai tự đánh giá toàn diện các hoạt động trong nhà trường theo bộ tiêu chuẩn giai đoạn 2016 - 2020

Sau khi thành lập Hội đồng tự đánh giá, Trường mời chuyên gia tập huấn cho Hội đồng tự đánh giá về đảm bảo chất lượng, đặc biệt tập huấn cho các nhóm chuyên trách kỹ thuật thu thập thông tin/minh chứng, mã hoá phân tích minh chứng, cách viết báo cáo tự đánh giá. Căn cứ vào kế hoạch tự đánh giá, nhóm chuyên trách triển khai phân công nhiệm vụ tới từng thành viên, thống nhất về mặt kỹ thuật, xác định các mốc thời gian hoàn thành. Các nhóm công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ phân tích tiêu chí, tìm thông tin, minh chứng; phân công các thành viên trong nhóm phản biện chéo trước khi trưởng nhóm duyệt. Ban thư ký xây dựng cơ sở dữ liệu, là đầu mối tổng hợp danh mục minh chứng cần cung cấp để gửi tới các đơn vị trong trường và phân phối minh chứng tới các nhóm chuyên trách, tổng hợp những vướng mắc để Hội đồng tự đánh giá chỉ đạo, giải quyết.

Quá trình triển khai tự đánh giá luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy và Ban giám hiệu thông qua triển khai nhiệm vụ hằng tháng. Đồng thời, Nhà trường tham dự tập huấn bộ tiêu chuẩn mới theo quy định của Thông tư 12 do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức.
Mặc dù đã tổ chức tập huấn kỹ lưỡng và triển khai chu đáo, nhưng khi thực hiện tự đánh giá, Nhà trường vẫn gặp một số vướng mắc, khó khăn sau:

1. Bộ tiêu chuẩn/Mốc chuẩn sử dụng một số thuật ngữ còn gây nhiều tranh cãi về nội hàm dẫn tới các cơ sở giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau cần được thống nhất.

- Ví dụ: “Hoạt động kết nối và phục vụ cộng đồng” có rất nhiều cách hiểu khác nhau: có cơ sở giáo dục cho rằng đó là tất cả các hoạt động kết nối và phục vụ cho tất cả các đối tượng trong trường (người học, cán bộ, giảng viên, chuyên viên, nhân viên,…) và ngoài trường (các hoạt động thiện nguyện, tư vấn,…). Cách hiểu khác cho rằng hoạt động kết nối phục vụ cộng đồng thể hiện ở những hoạt động phạm vi ngoài cơ sở giáo dục đại học như hoạt động đào tạo: Cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo, bồi dưỡng cho các tổ chức/doanh nghiệp, giảng dạy ở các trường phổ thông, các khóa dạy miễn phí,… Với hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là các hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ cho các công ty nhỏ và vừa,… và các hoạt động từ thiện.

- Cách tính “Tỷ lệ tốt nghiệp” có thể hiểu là tính tổng số sinh viên đỗ tốt nghiệp/số lượng sinh viên đang theo học; Hoặc có thể tính dựa trên tổng số sinh viên đỗ tốt nghiệp/tổng số tuyển đầu vào.
- Tương tự như vậy cần hướng dẫn cách tính “Chỉ số tài chính”“Chỉ số thị trường”.
- Ngoài ra, một số thuật ngữ về phương pháp đánh giá và loại hình kiểm tra đánh giá cần có hướng dẫn cụ thể.

2. Yêu cầu mốc chuẩn tham chiếu để đánh giá tiêu chí đạt mức 4 ở một số tiêu chí còn cao so với thực tiễn tại các cơ sở giáo dục hiện nay. Ví dụ như tiêu chí 10.2, mốc chuẩn 2 yêu cầu CSGD có ít nhất 5 cán bộ có chứng chỉ đào tạo kiểm định viên. Mốc chuẩn 2 của tiêu chí 16.3 yêu cầu thực hiện nghiên cứu, phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá người học, sự tác động của các hình thức kiểm tra, đánh giá, đối với chất lượng và hình thức tuyển chọn người học định kỳ bằng các công cụ hiện đại, hiệu quả. Một số yêu cầu về tài chính như cân đối chi và thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ,…

3. Minh chứng thu được chủ yếu là minh chứng thứ cấp gồm các báo cáo số liệu đơn lẻ từng học kỳ hoặc từng năm. Có rất ít các minh chứng là các biên bản/báo cáo đánh giá chất lượng, kết quả phản hồi và hiệu quả thực hiện việc cải tiến..., đối sánh và dự đoán xu thế, kế hoạch cải tiến để nâng cao chất lượng.

4. Để có đủ dữ liệu theo bộ tiêu chuẩn này, cơ sở giáo dục phải thực hiện nhiều đợt/nhiều nội dung khảo sát lấy ý kiến của sinh viên. Sinh viên thường phàn nàn vì phải trả lời phiếu khảo sát nhiều. Mặt khác, yêu cầu của mốc chuẩn thường đưa ra ít nhất 75% sinh viên hài lòng về vấn đề nào đó, đây cũng là yêu cầu khá cao.

5. Quy trình thiết kế công cụ điều tra khảo sát và xử lý, phân tích số liệu còn đơn giản như tính tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Office Excel. Chưa áp dụng kỹ thuật phân tích số liệu chuyên sâu như phân tích độ tin cậy, phân tích độ khó, độ phân biệt của item theo mô hình Rasch,...để làm tăng mức độ tin cậy và giá trị khoa học của các số liệu khảo sát.

6. Cán bộ chuyên trách về đảm bảo chất lượng ở cơ sở giáo dục còn thiếu và yếu, ngoài ra còn phải kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác nên chưa đáp ứng được các yêu cầu của kiểm định chất lượng.

7. Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong mới được củng cố nên việc tổng hợp cơ sở dữ liệu còn chưa thống nhất và đồng bộ.
          Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai còn gặp vướng mắc trong khâu thu thập, khắc phục minh chứng để có thể đáp ứng các yêu cầu của tiêu chí và phục vụ cho công tác tự đánh giá, đánh giá ngoài và kiểm định của các bên liên quan không chỉ trong nhà trường mà đây cũng là vướng mắc ở các cơ sở giáo dục khác. Vì vậy, trong quá trình thực hiện tự đánh giá ngoài việc thực hiện đúng quy trình cần có phương pháp triển khai cũng như cách thức tổ chức thực hiện cần phải phù hợp với đặc thù của từng cơ sở giáo dục, đặc biệt là trong trường Đại học công nghiệp Dệt May Hà Nội.

1. Bảng hướng dẫn tự đánh giá nên bổ sung giải thích một số thuật ngữ và hướng dẫn xác định các chỉ số. Ngoài ra, một số yêu cầu của nghiệp vụ thống kê khảo sát, đánh giá câu hỏi thi,…những nghiệp vụ phức tạp, chỉ một số ít cán bộ thực hiện nghiệp vụ hiểu nên cần được mô tả rõ hơn trong mốc chuẩn.
2. Rà soát và điều chỉnh mốc chuẩn phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và cần theo lộ trình.
3. Bộ Giáo dục & Đào tạo cần tổ chức bồi dưỡng tập huấn chuyên môn cho cán bộ chuyên trách về đảm bảo chất lượng ở các cơ sở giáo dục.
4. Yêu cầu các cơ sở giáo dục cần thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ. Việc xác định và thường xuyên thống kê, phân tích các chỉ số trong hoạt động quản lý như chỉ số tài chính, chỉ số thị trường, tỷ lệ có việc làm, tỷ lệ thi lại, tỷ lệ thôi học,... sẽ giúp lãnh đạo nhà trường sớm phát hiện ra những dấu hiệu bất thường, từ đó sẽ xác định nguyên nhân để khắc phục. Hình thành văn hóa ra quyết định dựa trên số liệu và phân tích.
5. Mỗi cơ sở giáo dục đại học nên mời chuyên gia tư vấn trong quá trình triển khai tự đánh giá ở các giai đoạn:
  • Tư vấn lựa chọn minh chứng thích hợp: chuyên gia tư vấn hướng dẫn tìm minh chứng, giúp khẳng định minh chứng hợp lý hay chưa hợp lý hoặc các minh chứng gián tiếp có thể chấp nhận được.
  • Hoàn thiện các báo cáo tiêu chí: mời chuyên gia tư vấn sẽ góp ý cho bản phác thảo báo cáo tiêu chí đầu tiên. Điều này giúp người viết báo cáo tiêu chí viết đúng các yêu cầu nội hàm của tiêu chí. Cơ sở giáo dục tổ chức thẩm định báo cáo tiêu chí chung với sự có mặt tất cả hội đồng tự đánh giá, nhóm chuyên trách và ban thư ký. Như vậy, các thành viên mới góp ý được đầy đủ, chính xác hiện trạng, điểm mạnh, điểm tồn tại và kế hoạch hành động hợp lý, đúng đắn cho từng báo cáo tiêu chí. Hoạt động này vừa là tập huấn về nghiệp vụ đồng thời hình thành thói quen văn hóa chất lượng trong trường.
  • Chuyên gia tư vấn góp ý, sửa chữa theo đúng yêu cầu của báo cáo tiêu chuẩn và hoàn thiện báo cáo tự đánh giá trước khi đưa ra hội đồng tự đánh giá thẩm định.
  • Thúc đẩy thực hiện đúng tiến độ tự đánh giá: Khi kế hoạch chuyên gia tư vấn đến làm việc đã xác định, các thành viên tham gia viết báo cáo tự đánh giá đều phải đảm bảo đúng tiến độ.
          Điều quan trọng nhất trong tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục là mỗi cơ sở phải biết mình đang vận hành như thế nào trong xu thế chung của hoạt động đảm bảo chất lượng, biết được thế mạnh và có kế hoạch cải tiến những tồn tại kịp thời. Quá trình thực hiện tự đánh giá nhằm giúp các cơ sở hướng tới đạt được những chuẩn mực chất lượng. Để hỗ trợ các trường làm tốt công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra những yêu cầu phù hợp với tình hình thực tiễn; tập huấn, hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ chuyên trách./.
Bài và ảnh: Nguyễn Văn Trung
© Bản quyền 2017 thuộc về Trường Đại học công nghiệp dệt may Hà Nội.
Online: 53 Tổng truy cập: 8.674.578